![]() |
|
|
Theo các tài liệu nghiên cứu, mai vàng ở TT-Huế có nguồn gen bản địa đặc hữu thường gọi là “Hoàng mai Huế”, được trồng từ lâu đời ở Cung đình, phủ đệ, dinh thự, sân đình, cửa chùa, sân nhà người dân... tạo nên vẻ đẹp, trở thành biểu tượng sắc xuân của thiên nhiên và con người Huế, gắn liền với đời sống thường nhật Huế. Ảnh: Đình Hoàng
![]() |
|
|
Hoàng mai Huế là giống cây thân gỗ nhỏ tuổi thọ bền. Cây sinh trưởng phát triển như giống mai thông thường, không kén đất trồng, chủ yếu chỉ trồng được ở khí hậu nhiệt đới. Ảnh: Đình Hoàng.
![]() |
|
|
Mai vàng Huế có lộc xanh, cành lộc dày, hoa có cuống ngắn, 5 cánh màu vàng đậm, viền lượn sóng, mặt phẳng, các cánh xếp khít nhau, hương thơm dịu nhẹ. Đây là đặc tính cảm quan của Hoàng mai Huế, dùng để phân biệt các loại mai khác. Ảnh: Đình Hoàng.
![]() |
|
|
Hoàng mai Huế không có lá màu đỏ như hồng diệp mai của vùng Trung Trung bộ hay nhiều cánh như hoa mai miền Nam mà chỉ có 5 cánh, lá cây khi còn non đã có màu xanh, cánh dày, vàng tươi rực rỡ, mang hương thơm nhè nhẹ, tinh khiết và thanh thoát rất riêng biệt. Ảnh: Đình Hoàng.
![]() |
|
|
Từ lâu, Hoàng mai Huế được nhân giống bằng cách ghép hoặc trồng từ hạt. Hiện nay, giống này chủ yếu được trồng từ cây ghép do có ưu điểm là cây nhanh lớn, nụ nhiều, sức sống mạnh, ít bệnh hơn cây trồng từ hạt. Ảnh: Đình Hoàng.
![]() |
|
|
Mai Huế thường khó trổ bông hơn so với các loại hoa mai khác. Mai Huế cần thời tiết ấm để cây đâm chồi nảy lộc. Trời quá nóng thì mai thường nở sớm. Trời quá lạnh, cây mai lại khép nụ mãi, không đơm bông được. Ảnh: Đình Hoàng.
![]() |
|
|
![]() |














